CÔNG AN XÃ CÓ ĐƯỢC QUYỀN ĐÁNH NGƯỜI KHI TẠM GIỮ? CÔNG AN,TẠM GIỮ

Tôi có một việc cần hỏi Luật sư. Tôi và anh trai tôi ra UBND xã để giải Quyết vụ việc đánh nhau tại nhà anh tôi, khi tôi vào phòng công an xã để lấy lời khai thì công an xã đã dùng chân phải đạp vào ngực trái tôi trong khi đang lấy lời khai tôi muống hỏi luật sư là hành vi của công an xã vi phạm vào tội gì ? và phương thức sử phạt hành vi đó như thế nào ?

Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin anh cung cấp: anh và anh trai của anh ra Ủy ban nhân dân xã để giải quyết vụ việc đánh nhau tại nhà anh. Khi anh vào phòng công an xã để lấy lời khai thì công an xã đã dùng chân phải đạp vào ngực trái của anh trong khi đang lấy lời khai. Nhưng ở đây, anh chưa nêu rõ hành vi của công an xã đạp vào ngực anh có gây ra thương tích hay hậu quả gì không ?

Theo Điều 20 Hiến pháp 2013 quy định như sau:

1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Bạn đang xem: Công an xã có được quyền đánh người khi tạm giữ? công an,tạm giữ

2. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Tòa án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định…”.

Như vậy, trong trường hợp này việc công an xã dùng chân phải đạp vào ngực trái của anh là hoàn toàn “sai”. Công an xã không có quyền được làm như vậy, việc làm đó đã vi phạm pháp luật. Nhưng ở đây, chúng ta cần xét đến hậu quả xảy ra:

Trường hợp 1: Nếu như hành vi của công an xã không gây ra ảnh hưởng quá lớn tới sức khỏe của anh, thì trong trường này anh có thể làm đơn tố cáo lên cơ quan Công an cấp trên trực tiếp về hành vi đánh người của công an xã. Công an xã có thể bị xử phạt hành chính, bị khiển trách hoặc sẽ bị kỷ luật.

Trường hợp 2: Nếu như hành vi của công an xã mà gây ra thương tích cho anh thì căn cứ vào mức độ thương tích và kết quả giám định thương tật, có thể công an xã sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Theo Điều 134 Bộ luật hình sự 2015 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác như sau:

1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;

b) Dùng a-xít nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm;

c) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo của mình, người nuôi dưỡng, chữa bệnh cho mình;

đ) Có tổ chức;

e) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

g) Trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù, đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng hoặc đang chấp hành biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;

h) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do được thuê;

i) Có tính chất côn đồ;

k) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

Xem thêm: Sách Nói Truyện Kiếm Hiệp Mp3, Nghe Đọc Truyện Kim Dung, Truyện Audio Tiếu Ngạo Giang Hồ

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31 % đến 60%;

b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 11% đến 30%;

c) Phạm tội 02 lần trở lên;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

*
*
*

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài:1900.6568

Ngoài ra, hai người tự xưng là công an này còn có hành vi cướp chiếc điện thoại của bạn và có hành vi dọa sẽ đập phá chiếc điện thoại của bạn. Nếu chiếc điện thoại của bạn bị đập nát, phá hỏng thì trong trường hợp này, hai người công an viên này có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 36 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự 2015. Cụ thể:

“Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản:

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: 

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm; 

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm; 

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; 

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; 

đ) Tài sản là di vật, cổ vật.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

…”

Căn cứ theo quy định tại Điều 178 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bởi khoản 36 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Hình sự 2015 được trích dẫn ở trên, nếu tài sản của bạn có trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên thì hai người công an có hành vi đập phá tài sản của bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác. Trường hợp họ chỉ đe dọa mà không có hành vi đập phá tài sản của bạn thì họ sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này.

Như vậy, từ những phân tích nêu trên, hai người tự xưng là công an viên đang có hành vi xâm phạm nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng và tài sản của bạn. Họ còn tự xưng là công an viên, lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình để dọa dẫm, uy hiếp bạn. Đây được xác định là hành vi trái pháp luật cần được xử lý nghiêm theo pháp luật.